Mứt TếtCây CảnhHạt TếtTrái CâySản phẩmBài viết

Cây ô rô chữa thổ huyết, máu cam, tiểu tiện ra máu

2018-10-11 Nguồn Ông Tư Tóc Bạc

Còn gọi là đại kế, thích kế, thiết thích ngãi, dã thích thái, thích khải tử, hổ kế, mã kế, dã hồng hoa, sơn ngưu bang, hê hạng thảo. Tên khoa học: cnicus japonicas. Thuộc họ cúc. Đại kế là toàn cây ô rô phơi hay sấy khô bao gồm thân, cành lá, rễ, hoa tự.

Mô tả cây Ô rô:

Ô rô là loại cây cỏ sống lâu năm, rễ hình thoi dài, có nhiều rễ phụ, thân cao 58- 100 cm hay hơn nữa; thân màu xanh có nhiều rãnh dọc, nhiều lông. Lá ở góc dài 20-40 cm hay hơn, rộng 5-10 cm, hai lần xẻ lông chim, thành thùy; mặt trên nhẵn, mép có gai dài, lá ở thân không cuống, chia thùy. Càng lên trên càng nhỏ và chia đơn giản hơn. Hoa tự hình đầu mọc ở kẽ lá hay đầu cành, đường kính khoảng 3- 5 cm. Lá bắc hẹp nhọn, không đều; lá ngoài ngắn và rất nhọn; lá bắc trong có đầu mềm hơn; tất cả đều ít lông, có gân chính giữa nổi rõ. Cánh hoa màu tím đỏ. Quả thuôn dài 4mm, nhẵn hơi dẹt. Mùa hoa vào các tháng 5-7; mùa quả các tháng 5-9.

Phân bố, thu hái và chế biến cây Ô rô:

Cây mọc hoang ở khắp miền bắc và miền trung nước ta.

Mùa hạ, mùa thu, đang lúc hoa nở thì thu hoạch toàn cây phơi khô mà dùng. Hái vào mùa thu người ta cho là tốt hơn. Nếu dùng rễ, nên hái vào mùa thu rễ sẽ to hơn; đào rễ về cắt bỏ rễ con, rửa sạch, phơi khô.

Công dụng và liều dùng Ô rô:

Đại kế hay ô rô được nhân dân ta làm thuốc từ lâu đời. Vị thuốc này đã được ghi trong Danh y Biệt lục(502-549) và bản thảo cương mục(1596). Theo tính chất ghi trong sách cổ ô rô vị cam( ngọt), khổ (đắng), lương( mát), chủ yếu chữa thổ huyết, máu cam, tiểu tiện ra máu, bị đánh hay bị ngã mà chảy máu băng đới; còn có tác dụng làm mát huyết, tiêu thũng, thông sữa.

Có thể dùng cây và lá hay rễ tươi giã ép lấy nước hoặc phơi khô sắc uống.

Liều dùng hàng ngày: cây tươi 100- 180 g; cây và rễ khô 40-60 g. Có người chỉ dùng 6-12 g cây khô uống phối hợp với các vị khác. Bệnh viện đã áp dụng ô rô sắc uống chữa phù thận có kết quả tốt

Đơn thuốc có Ô rô:

Đại kế 20g, bồ hoàng 8g, táo đen 10 quả, nước 600 ml sắc còn 200ml chia 3 lần uống trong ngày để chữa kinh nguyệt quá nhiều, băng huyết tử cung.

Bài Viết Liên Quan Đến Cây thuốc nhà nông

Bạch Đồng Nữ trị bệnh phụ nữ

2018-9-23 Nguồn Ông Tư Tóc Bạc
Trong nhân dân lá cây bạch đồng nữ chỉ hay dùng ngoài không kể liều lượng. Người ta hái lá tươi về vò nát hay giã nát hoặc sắc lấy nước tắm ghẻ, mụn nhọt hay rửa chốc đầu.

Bạch thược lợi tiểu, chữa đau bụng, kinh nguyệt không đều, mồ hôi trộm

2018-11-14 Nguồn Ông Tư Tóc Bạc
Bạch thược có tác dụng nhuận gan, làm hết đau, dưỡng huyết, liễm âm, lợi tiểu tiện, dùng chữa đau bụng, tả lỵ, lưng ngực đau, kinh nguyệt không đều, mồ hôi trộm, tiểu tiện khó. Thược dược được dùng làm thuốc giảm đau, thông kinh trong những bệnh đau bụng( do ruột co bóp quá mạnh), nhức đầu, chân tay nhức mỏi; còn dùng chữa phụ nữ bế kinh, xích bạch đới lâu năm không khỏi

Bọ mẩy dùng cho phụ nữ sau khi sinh

2018-11-16 Nguồn Ông Tư Tóc Bạc
Còn gọi là đại thanh, đắng cay, mẩy kỳ cáy, thanh thảo tâm , bọ nẹt. Tên khoa học: Clerodendron cyrtophyllum Turcz. Thuộc họ cỏ đuôi ngựa

Cây bán hạ chữa nôn mửa

2018-10-11 Nguồn Ông Tư Tóc Bạc
Cây bán hạ là một loại cỏ không có thân, với củ hình cầu đường kính tới 2 cm. Lá hình tim hay hình mác, hoặc chia ba thùy dài 4- 15cm, rộng 3,5-9 cm. Bông mo với phần hoa đực dài 5-9 cm, phần trần dài 17-27 cm. Quả mọng , hình trứng dài 6mm

Cây bông làm thuốc cầm máu tử cung, điều kinh

2018-10-11 Nguồn Ông Tư Tóc Bạc
Vỏ rễ cây bông là một vị thuốc chính thức dùng dưới dạng cao lỏng làm thuốc cầm máu tử cung. Nhân dân ta cũng dùng làm thuốc điều kinh. Nó gây co bóp tử cung giống như sự co bóp tự nhiên khi đẻ

Cây đài hái chữa bệnh loét mũi

2018-10-11 Nguồn Ông Tư Tóc Bạc
Đài hái là một loại dây leo, mọc khỏe, thân nhẵn, có thể dài hơn 30 mét. Lá hình tim, phiến chia 3 hay 5 thùy, rộng chừng 15-25 cm, mặt trên màu xanh lục, mặt dưới màu nhạt hơn, dai, cứng nhẵn, thùy thuôn dài đầu nhọn. Khi còn non lá có thể dài không chia thùy hay chỉ có hai thùy. Tua cuốn to khỏe và quăn xoắn. Hoa đực mọc thành chùm với dạng ngù. Hoa cái đơn độc, ở kẽ lá, quả hình cầu, to bằng đầu người, đường kính có thể đạt 20 cm, trên có chừng 10-12 khía, trông không rõ. Hạt từ 6-12, rất to, dài tới 8 cm, rộng 5 cm, hình trứng, dẹt, có lá mầm rất phát triển, một mặt phẳng, một mặt khum